Trang chủ              English

Nông nghiệp và Chính sách tổng hợp

Trồng mới gần 49.000 ha rừng phòng hộ ven biển
Đức giúp Việt Nam bảo về rừng Tam Đảo

Lâm nghiệp và Quản lý Tài nguyên Môi trường

Gần 9 triệu hécta đất có nguy cơ sa mạc hoá
Vào WTO, đất đai còn là sở hữu toàn dân

Thuỷ sản

Ngành nông nghiệp, một năm nhìn lại
Đưa kinh tế nông nghiệp tăng trưởng vững chắc

Khoa học công nghệ









Đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu:Mối liên quan tới đói nghèo
Phát hiện quần thể lớn Voọc Chà Vá Chân xám

AGRO - Gioi thieu mot so Bao cao Danh gia moi truong chien luoc dien hinh

Giới thiệu một số Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược điển hình (22/07/2009)

Nghị định 80/2006/NĐ-CP quy định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường quy định cụ thể về việc thực hiện ĐMC đối với các Chiến lược, Quy hoạch và Kết hoạch

Quy định lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được quy định trong điều 14 của luật bảo vệ môi trường năm 2005 quy định đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược. Điều 8,9 của Nghị định 80/2006/NĐ-CP quy định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường quy định cụ thể về việc thực hiện ĐMC đối với các Chiến lược, Quy hoạch và Kết hoạch. Mới đây thông tư 05 ban hành ngày 08 tháng 12 năm 2008 hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược. Quy định cụ thể chi tiết các bước thực hiện lập báo cáo đánh gía môi trường chiến lược.

Một số báo cáo ĐMC điển hình

1. Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020

Báo cáo chỉ ra một số điểm cần lưu ý khi thực hiện dự án quy hoạch tổng thể:

Về mức độ phù hợp về quan điển và mục tiêu của dự án: Các mục tiêu của dự án phù hợp với các mục tiêu bảo vệ môi trường được các cấp các ngành quy định chính thống.

Về tác động xấu đối với môi trường: Việc triển khai dự án sẽ tác động đến các khía cạnh KT-XH và môi trường. Trong đó, môi trường sẽ tác động theo hướng tiêu cực, đặc biệt trong thành phố Huế, khu vực cảng chân Mây – Lăng Cô. Các vấn đề môi trường, sinh thái bị tác động mạnh từ dự án: Suy thoái, ô nhiễm môi trường nước, chất thải rắn, suy giảm tài nguyên sinh học, tác động xấu tới các hệ sinh thái nhạy cảm, mất đất nông nghiệp.Tuy nhiên, nếu áp dụng biện pháp quản lý chặt chẽ, khuyến khích ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, xã hội hóa công tác BVMT thì ô nhiễm môi trường sinh thai sẽ giảm và sẽ chịu ảnh hưởng không quá lớn từ các dự án.

Về việc phê duyệt dự án: Dự án mang tính cấp thiết và thực tiễn cao, thực hiện cơ sở lý luận phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở nhiều cấp khác nhau. Các phân tích này rất chi tiết, đảm bảo mức độ tin cậy về đánh giá các nguồn lực và hiện trạng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong tình hình mới và là các nguồn lực là cơ sở để đề xuất các quy hoạch và kế hoạch

Kiến nghị đối với báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh thừa thiên huế:

Không nên tập trung quá nhiều vào dự án nâng cấp hiện đại hóa đô thị Huế như: dự án cầu vượt đường sắt. Khi xây dựng các dự án này không những ảnh hưởng đến môi trường của TP Huế mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh của Cố đô Huế.

Các dự án xây dựng các thị xã cần có trọng điểm, vì trong báo cáo quy hoạch có ưu tiên xây dựng các khu đô thị mới.

Phải xây dựng các dự án xử lý nước thải, khu đô thị, khu công nghiệp và làng nghề

Không nên tập trung quá nhiều nhà máy, KCN trong Khu KT Chân Mây - Lăng Cô.

2. ĐMC cho quy hoạch sử dụng đất huyện An Nhơn, Bình Định

Mục tiêu chung: Nghiên cứu nhằm kết hợp các mục tiêu về môi trường trong quy hoạch sử dụng đất, 2007-2010 tại khu vực nghiên cứu.

Mục tiêu cụ th:

- Đánh giá hiện trạng môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội tại khu vực dự án.

- Đánh giá và dự báo những tác động môi trường do hoạt động của dự án trong từng giai đoạn cụ thể.

- Đề xuất biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực và chương trình giám sát môi trường trong từng giai đoạn cụ thể.

- Phân tích những tiềm năng cải thiện môi trường thông qua những thay đổi trong việc sử dụng đất.

Phương pháp: Xây dựng báo cáo ĐMC độc lập với quá trình xây dựng quy hoạch sử dụng đất. Cụ thể

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: phỏng vấn trực tiếp người dân và chính quyền địa phương liên quan.

- Phương pháp khảo sát hiện trường: tiến hành khảo sát, đo đạc hiện trạng môi trường tại khu vực dự án.

- Phương pháp thống kê: xử lý số liệu bằng các thuật toán xác suất thống kê.

- Phương pháp nhận dạng: mô tả hệ thống môi trường, xác định các thành phần của dự án ảnh hưởng đến môi trường.

- Phương pháp đánh giá nhanh: dựa trên phương pháp đánh giá tác động môi trường của Tổ chức Y tế Thế giới để tính toán tải lượng ô nhiễm và đánh giá tác động của các nguồn ô nhiễm.

- Phương pháp ma trận: nhận diện và sử dụng ma trận đánh giá tác động nhanh để đánh giá các tác động của dự án đến môi trường vật lý, môi trường sinh học và môi trường văn hóa - xã hội.

- Phương pháp chuyên gia: dựa vào hiểu biết và kinh nghiệm về khoa học môi trường của nhóm đánh giá.

- Phương pháp GIS: sử dụng các công cụ và phần mềm như GPS, Mapinfo,

- Arcview…

- Phương pháp mô hình toán: sử dụng mô hình toán để đánh giá và dự báo lan truyền ô nhiễm đến môi trường.

Điểm mạnh:

Một báo cáo ĐMC có chất lượng cao được xây dựng với các thông tin tuơng đối chi tiết về hiện trạng môi trường tại huyện An Nhơn. Chính các báo cáo về hiện trạng môi trường này đã tạo ra được một cơ sở khoa học về môi trường cho quá trình ra quyết định quy hoạch của chính quyền địa phương. Đồng thời, báo cáo cũng đánh giá và đưa ra các dự báo tác động về môi trường do quy hoạch sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu. Các tác động này bao gồm chủ yếu từ quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa được tóm tắt như sau:

Các tác động tích lũy được đánh giá, phân tích khá kĩ trong báo cáo ĐMC liên quan đến các vấn đề về ô nhiễm trực tiếp nguồn nước mặt trên địa bàn huyện; ô nhiễm nước ngầm tầng nông một số khu vực do nhiễm bẩn nước thải; khả năng cạn kiện nguồn nước ngầm do khai thác sử dụng quá mức; ô nhiễm môi trường đất; ô nhiễm không khí do khí thải của các KCN/CCN; ô nhiễm do mật độ giao thông tăng do ĐTH, CNH trong toàn vùng.

Đã có 3 kịch bản quy hoạch sử dụng đất đã được đề xuất và mỗi quy hoạch này đều đã được đánh giá về khía cạnh môi trường với các đề xuất về bảo vệ môi trường được xây dựng cho các lựa chọn khác nhau. Đây là một hướng đi đúng để có thể làm cơ sở khoa học cho người có trách nhiệm ra quyết định lựa chọn 1 kế hoạch hành động về môi trường tốt cho huyện dựa trên những yêu cầu cụ thể cũng như các điều kiện sẵn có của địa phương.

Nhược điểm: có 2 nhược điểm lớn của báo cáo ĐMC này được thể hiện khá rõ đồng thời đây cũng là 2 bài học kinh nghiệm có thể rút ra cho quá trình xây dựng các báo cáo ĐMC khác trong tương lai.

- Thứ nhất, báo cáo ĐMC chưa hoàn toàn gắn với quy hoạch sử dụng đất và còn quá chung chung – các đánh giá tác động chưa làm nổi bật được sự khác biệt và làm cho nguời đọc nhận rõ được đây là các tác động môi trường do quy hoạch sử dụng đất gây ra. Đây là hậu quả của việc dự án này do 2 công ty (nhóm) thực hiện: việc xây dựng báo cáo ĐMC và xây dựng quy hoạch hoàn toàn tách biệt và không có sự thống nhất. Đây cũng là điểm cần lưu ý nhất và là bài học đắt giá nhất có thể rút ra cho các hoạt động xây dựng báo cáo ĐMC sẽ có trong tương lai: nên tiến hành theo kiểu lồng ghép.

- Thứ hai, do báo cáo ĐMC được sử dụng chỉ như 1 công cụ phục vụ cho quá trình xây dựng quy hoạch sử dụng đất nên đã hạn chế các tác dụng của các kết quả có được từ báo cáo này. Trong tương lai, các kết quả của ĐMC cần được sử dụng như các kết quả của một báo cáo quy hoạch môi trường chung để tận dụng đuợc các kết quả này cho quá trình xây dựng quy hoạch.

Kinh nghiệm và bài học:

- QHSDĐ cần gắn yếu tố môi trường có sự tham gia của người dân để có được sự đồng thuận cao và tích cực góp ý kiến quan trọng cho Nhà nước, đặc biệt là tính khả thi trong QHSDĐ. Nói cách khác, quá trình lập quy hoạch cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa tất cả các bên liên quan đến quy hoạch;

- Hạn chế thấp nhất sự ô nhiễm môi trường, sử dụng tài nguyên đất đai hợp lý phục vụ phát triển KT-XH bền vững;

- Việc lập QHSDĐ lồng ghép với yếu tố môi trường là một vấn đề mới và phức tạp, chưa được Bộ TNMT hướng dẫn nên trong quy trình nội dung cũng còn nhiều lúng túng, nhất là việc đánh giá tác động môi trường lồng ghép QHSDĐ;

- Việc lấy ý kiến đóng góp của người dân cần công khai minh bạch nhưng tren thực tế còn gặp nhiều khó khăn;

- Đội ngũ cán bộ tham gia QHSDĐ có lồng ghép với yếu tố môi trường chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Hơn nữa, việc chưa có đội ngũ chuyên gia chuyên nghiệp cộng với lực lượng tham gia trực tiếp quá mỏng, lại chưa hoàn toàn có được sự phối hợp đắc lực của cán bộ địa chính cấp huyện, xã cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng của quá trình xây dựng báo cáo;

- Trình độ dân trí chưa cao, ý thức hiểu biết về QHSDĐ lồng ghép với yếu tố môi trường còn hạn chế.

3. ĐMC cho quy hoạch sử dụng đất huyện Vị Xuyên, Hà Giang

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm kết hợp các mục tiêu về môi trường trong quy hoạch sử dụng đất, 2007-2010 tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp: xây dựng báo cáo ĐMC mang tính lồng ghép các yếu tố môi trường (tác động môi trường) trong quá trình xây dựng quy hoạch.

Với các đặt vấn đề như vậy, việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất cho vùng nghiên cứu và các hoạt động đánh giá tác động môi trường được thực hiện bởi cùng một đơn vị là Viện Thiết kế và Quy hoạch Nông nghiệp nhằm đảm bảo tính lồng ghép giữa 2 hoạt động và đảm bảo các phân tích, đánh giá về môi trường có thể làm cơ sở để các nhà ra quyết định cân nhắc trước khi quyết định phê duyệt quy hoạch sử dụng đất.

Một cách tổng thể, các kết quả phân tích và đánh giá tác đông môi trường được lồng ghép trong suốt quá trình xây dựng quy hoạch và như đã nói trên, cần nhấn mạnh thêm rằng 2 quá trình này được tiến hành bởi cùng một đơn vị thực hiện. Việc này bắt đầu bằng công đoạn khảo sát đối với các cộng đồng về hiện trạng môi trường và sau đó là các khảo sát nhằm tìm hiểu về hiện trạng sử dụng đất (tập trung vào vấn đề ứng phó với các rủi ro về xói mòn và sụt lở đất). Cuối cùng, quy trình này sẽ đưa ra được các kết quả đánh giá và so sánh về kết quả (các tác động về môi trường) của 2 kịch bản quy hoạch sử dụng đất đề xuất để các nhà ra quyết định có thể xem xét và lựa chọn để xác định phương án quy hoạch phù hợp nhất với các điều kiện và yêu cầu cụ thể của vùng quy hoạch.

Điểm mạnh:

Bản quy hoạch sử dụng đất này đã được xây dựng lồng ghép với một cơ sở khoa học về các vấn đề môi trường tương đối tốt, các xu hướng về sử dụng đất và môi trường cũng như các khuyến nghị về các giải pháp bảo vệ môi trường (ví dụ, để chống lại quá trình xói mòn đất cũng như quản lí chất thải) trong kịch bản quy hoạch đề xuất. Đây cũng là điểm mạnh của báo cáo khi đưa ra được các cơ sở để so sánh giữa các kịch bản phát triển khác nhau.

Điểm yếu:

Nghiên cứu này ngoài những ưu điểm rất đáng ghi nhận cũng có một số điểm cần cân nhắc thêm trong đó đặc biệt là vấn đề về việc huy động các bên liên quan, nhất là các bên liên quan của địa phương trong quá trình xây dựng báo cáo.

Do nghiên cứu này hoàn toàn do một đơn vị bên ngoài (không có liên quan gì đến địa phương) thực hiện bao gồm cả việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất và ĐMC của quy hoạch này đối với môi trường địa phương nên hầu như sự tham gia của các cộng đồng địa phương trong quá trình xây dựng là rất ít. Trên thực tế, sự tham gia của các bên liên quan cấp địa phương là rất quan trọng trong quá trình xây dựng quy hoạch do họ chính là những người trực tiếp sử dụng nguồn lợi, vừa được hưởng lợi từ các quy hoạch cũng vừa bị ảnh hưởng từ chính các quy hoạch nên họ sẽ có những ý kiến tương đối xác đáng đóng góp cho quá trình xây dựng quy hoạch. Mặt khác, đối với phía các nhà làm quy hoạch nếu không có sự tham gia của cộng đồng cũng như các bên liên quan ở địa phương cũng sẽ rất khó thu thập đủ thông tin phục vụ cho quy hoạch, kẻ cả các thông tin cơ bản chứ chưa nói đến các thông tin liên quan đến các vấn đề nhạy cảm trong khi các yếu tố này rất có thể tác động tương đối lớn đến kết quả của quy hoạch.

Bài học/kinh nghiệm:

- Việc phổ biến rộng rãi các kết quả nghiên cứu đến cộng đồng dân cư địa phương và sau đó nhận lại và cân nhắc các phản hồi từ phía địa phương là rất quan trọng trong việc tìm và lựa chọn phương án qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất tối ưu. Nói cách khác, quá trình xây dựng quy hoạch có sự tương tác đa chiều là rất quan trọng không chỉ với vấn đề môi trường mà cả các vấn đề khác về kinh tế và xã hội. Một cách tổng quát, năng lực huy động sự tham gia của các bên liên quan, trong đó có cả các chuyên gia cũng là cực kì quan trọng, giúp cho sản phẩm có chất lượng hơn;

- Sự khác nhau giữa số liệu trong niên giám thông kê và số liệu thu thập là một vấn đề lớn - đã gây ra những khó khăn trong xử lý và tổng hợp số liệu. Đây không chỉ là vấn đề của riêng nghiên cứu này và cần được quan tâm giải quyết sớm trên phạm vi toàn quốc để tránh lãng phí nguồn lực cũng như khả năng có thể đưa ra các đánh giá sai lầm;

- Năng lực cán bộ cấp xã và huyện về QHSDĐ còn yếu, do đó sự phối hợp giữa địa phương, đơn vị tư vấn và Sở TNMT còn gặp khó khăn làm giảm tính hiệu quả của quy hoạch cũng như quá trình ĐMC;

4. ĐMC cho quy hoạch sử dụng đất Thị trấn Long Hải, BRVT, 2006-2010

Mục tiêu:

Nghiên cứu nhằm kết hợp các mục tiêu về môi trường trong quy hoạch sử dụng đất, 2007-2010 tại khu vực nghiên cứu đồng thời giúp Bà Rịa - Vũng Tàu nhân rộng mô hình, thực hiện tốt công tác lập quy họach, kế họach sử dụng đất nói riêng và lập quy họach, kế họach cho các ngành nói chung trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Mục tiêu cụ thể:

- Thí điểm Công tác lồng ghép môi trường trong quá trình lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Tạo mô hình cho công tác lập qui hoạch, kế hoạch khác trên địa bàn tỉnh có tính đến yếu tố môi trường.

- Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý MT, cán bộ lập kế hoạch, qui hoạch

- Chia sẻ bài bài học kinh nghiệm với hợp phần quốc gia và hợp phần các tỉnh SEMLA

Phương pháp:

Đây là một cách thức thực hiện tương đối khác so với các ĐMC khác - Báo cáo dự thảo quy hoạch sử dụng đất đã được đưa ra từ giưa năm 2006, khi đó chương trình SEMLA mới bắt đầu làm việc với trường hợp nghiên cứu này.

Phương pháp lồng ghép đã được Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát với sự tư vấn của chương trình SEMLA (các chuyên gia tư vấn) cùng với kết quả khảo sát từ các cuộc điều tra cũng như các thông tin từ các cuộc tham vấn cộng đồng địa phương.

Điểm mạnh:

Sau khi đã rà soát và điều chỉnh bản dự thảo, quy hoạch sử dụng đất đã bao gồm được các yếu tố về môi trường cũng như cả các đánh giá có liên quan về mặt xã hội như nhu cầu về diện tích cây xanh, hoặc cơ sở hạ tầng về môi trường… Sự tích hợp này tạo nên một diện mạo mới, toàn diện hơn cho bản quy hoạch và đồng thời nó cũng tạo ra sức thuyết phục lớn hơn cho bản quy hoạch được thuyết minh theo hướng tiến tới mục tiêu dử dụng bền vững nguồn lợi tự nhiên.

Sau đó, chính quyền địa phương - các nhà ra quyết định phê duyệt quy hoạch đã tổ chức đuợc một cuộc triển lãm nhằm lấy ý kiến rộng rãi của các bên liên quan về dự thảo quy hoạch được trình diễn và đây cũng được coi là một điểm mạnh nữa trong quá trình xây dựng quy hoạch này khi huy động được nhiều ý kiến từ các bên liên quan.

Điểm yếu:

Điểm yếu lớn nhất của báo cáo ĐMC này đó là được xây dựng khá muộn hơn so với quá trình xây dựng quy hoạch. Chính vì vậy, các yếu tố liên quan đến môi trường được đưa vào phân tích, đánh giá không nhiều và không bao trùm được hết các vấn đề so với yêu cầu thực tiễn đặt ra. Trên thực tế, hầu như chỉ có các yếu tố về cơ sở hạ tầng môi trường được đưa vào đánh giá và được các nhà ra quyết định cân nhắc trong quá trình điều chỉnh quy hoạch.

Bài học/kinh nghiệm:

- Việc quy hoạch sử dụng đất bắt buộc phải tính đến các yếu tố môi trường ngay từ khi có các ý tưởng về lập qui hoạch SDĐ

- Phải tiến hành lồng ghép môi trường đồng thời với quá trình xây dựng quy hoạch.

- Tổ chức tham vấn cộng đồng trong việc phối hợp với kinh nghiệm của tư vấn quốc tế và UBND thị trấn với sự tham gia của người dân cấp cơ sở

5. ĐMC cho quy hoạch sử dụng đất huyện Yên Thành, Nghệ An

Mục tiêu:

Nghiên cứu nhằm kết hợp các mục tiêu về môi trường trong quy hoạch sử dụng đất, 2006-2010 tại khu vực nghiên cứu.

Mục tiêu cụ thể:

- Về kinh tế: Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân và tổng giá trị gia tăng đến năm 2010. Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ - nhất là dịch vụ du lịch, phấn đấu đến năm 2010 thu nhập bình quân đầu người đạt 850 USD/năm. Ngoài ra, phấn đấu tăng nhanh giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác, tăng độ che phủ của rừng, phát triển cây nguyên liệu giấy cung cấp cho các nhà máy chế biến bột giấy của tỉnh.

- Về xã hội: giảm và duy trì mức độ phát triển dân số bình quân thấp (đến năm 2010 là 0,7 %). Xóa hẳn số hộ đói giảm hộ nghèo, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ đói nghèo từ 8% năm 2005 xuống 4% ở năm 2010. Cải thiện mạnh mẽ cơ sở hạ tầng nông thôn (cơ bản hoàn thành việc xây dựng giao thông liên thôn, các tuyến đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc cấp phối). Tăng tổng đầu tư toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sản xuất kinh doanh mà pháp luật cho phép. Tạo thêm nhiều việc làm ho lao động địa phương đồng thời khích lệ nhân dân làm giàu chính đáng bằng sức lao động, tài năng và sáng tạo của mình.

- Về môi trường: duy trì, bảo vệ nghiêm ngặt trạng thái rừng hiện có. Khoanh nuôi trồng rừng kết hợp trồng cây lâu năm để đạt tỷ lệ tán che cao nhất. Phát triển lâm nghiệp theo hướng xã hội hóa nghề rừng, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, chăm sóc phát triển rừng nghèo thành rừng giàu. Chuyển đổi diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu thành rừng kinh tế. Gắn khai thác sử dụng với nhiệm vụ tái tạo làm tăng độ phì cho đất, chống suy thoái đất, gắn lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường đảm bảo sử dụng đất bền vững lâu dài. Đảm bảo môi trường trong lành cho hiện tại và thế hệ tương lai, 100% cơ sở đạt tiêu chuẩn môi trường, 80% rác thải được thu gom, xử lý trong giai đoạn đến năm 2010 và sẽ nâng tỷ lệ này lên 95-100% vào các năm tiếp theo.

Phương pháp:

Quá trình xây dựng báo cáo ĐMC được thiết lập tách biệt khỏi quá trình xây dựng quy hoạch sử dụng đất. Hai nhóm chuyên gia khác nhau cũng đã được thành lập để tiến hành song song hai nhiệm vụ này: nhóm chuyên gia của Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện ĐMC và nhóm chuyên gia của một Trung tâm Kĩ thuật Tài nguyên và Môi trường thực hiện việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất. Hai đơn vị này đã phối kết hợp với nhau khá tốt để lựa chọn phương án quy hoạch sử dụng đất tối ưu liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.

Báo cáo đã được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất để áp dụng vào việc quy hoạch và lựa chọn phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Yên Thành. Các khu vực được đưa ra cân nhắc bao gồm khu công nghiệp, cụm công nghiệp, lò mổ, bãi rác, nghĩa trang, trại chăn nuôi, chợ, trạm y tế… đồng thời các vấn đề có liên quan như quy hoạch giao thông cũng được đưa vào để cân nhắc và lựa chọn phương án tối ưu.

Điểm mạnh:

Một báo cáo ĐMC có chất lượng cao được xây dựng với các thông tin rất chi tiết với các đánh giá có chất lượng chuyên môn cao về hiện trạng môi trường tại huyện Yên Thành, Nghệ An. Các báo cáo về hiện trạng môi trường này đã góp phần tạo nên cơ sở khoa học cho quá trình ra quyết định quy hoạch của chính quyền địa phương.

Đồng thời, quá trình thực hiện ĐMC này cũng đã xây dựng được một cơ sở dữ liệu gốc về hiện trạng môi trường trong khu vực nghiên cứu và cơ sở dữ liệu này sẽ rất hữu ích cho công tác quy hoạch môi trường cho Huyện trong tương lai.

Điểm yếu:

Cũng tương tự như một số các dự án đánh giá môi trường chiến lược khác, báo cáo này còn quá tập trung vào các vấn đề kĩ thuật môi trường chung mà quên mất việc gắn kết giữa các kết luận đánh giá tác động môi trường này với việc xác lập CQK - ở đây là quy hoạch sử dụng đất. Đây chính là điểm làm cho báo cáo này giảm mất khá nhiều giá trị đặc biệt là trong việc góp ý điều chỉnh quy hoạch.

Chính vì điểm yếu này dẫn đến điểm yếu thứ hai của báo cáo đó là các kết luận và kiến nghị còn quá chung chung, ít trọng lượng để nhà ra quyết định có đủ cơ sở đưa ra các quyết định điều chỉnh hợp lí trong quá trình xây dựng quy hoạch. Đây cũng là điểm yếu lớn thứ 2 làm giảm giá trị của báo cáo mặc dù báo cáo đã xây dựng được một nghiên cứu về hiện trạng môi trường tương đối tốt nhưng cần luôn ghi nhớ rằng tất cả các đánh giá tác động môi trường ở đây đều nhằm phục vụ việc ra quyết định trong quá trình xây dựng quy hoạch.

6. ĐMC cho quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Báo cáo này hiện đang được coi là một trong những hình mẫu chuẩn nhất đối với việc xây dựng ĐMC tại Việt Nam.

Mục tiêu:

Mục đích, yêu cầu của quy hoạch sử dụng đất là mang tính chất dự báo và thể hiện những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả vùng, các ngành, các lĩnh vực trên từng địa bàn cụ thể theo các mục đích sử dụng đất đai hợp lý và có hiệu quả. Do đó quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và định hướng sử dụng đất đến năm 2020 VKTTĐ Bắc bộ phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của cả nước, của cả vùng; cụ thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010 và làm cơ sở cho xây dựng quy hoạch sử dụng đất của cả nước thời kỳ 2011 – 2020. Sau khi được phê duyệt, quy hoạch sử dụng đất sẽ trở thành công cụ quản lý Nhà nước về đất đai phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn; xử lý các vấn đề còn bất cập và các vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai.

Quy mô quy hoạch:

VKTTĐ Bắc Bộ có vị trí nằm trọn trong vùng đồng bằng sông Hồng và phần lớn vùng Thủ đô Hà Nội, gồm 2 thành phố trực thuộc Trung ương là TP. Hà Nội và TP. Hải Phòng và 6 tỉnh: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh. Vùng có diện tích tự nhiên là 15.488 km2, chiếm 4,7% diện tích tự nhiên của cả nước, dân số khoảng 13.555 nghìn người, chiếm 16,31% dân số cả nước, mật độ dân số trung bình là 875 người/km2.

Phương pháp áp dụng trong quá trình ĐMC

4.2.1. Danh mục các phương pháp sử dụng

- Các phương pháp ĐTM truyền thống: thống kê, ma trận, mạng lưới, so sánh tương tự, phân tích kịch bản và chồng chập.

- Các phương pháp đánh giá chính sách và quy hoạch: phân tích xu hướng và ngoại suy, phân tích đa tiêu chí.

- Các phương pháp đặc biệt: kết hợp kiến thức chuyên gia và kinh nghiệm thực tế từ các lĩnh vực khác nhau (chính sách, xã hội, kinh tế, môi trường,…)

4.2.2. Đánh giá mức độ tin cậy của các phương pháp

Trong quá trình thực hiện ĐMC quy hoạch sử dụng đất VKTTĐ Bắc bộ, các phương pháp ĐTM truyền thống đều đã được áp dụng. Các dự án thông thường (không phải là quy hoạch, chiến lược, chương trình, kế hoạch) đều cung cấp các số liệu cụ thể về nguyên liệu, sản phẩm, công nghệ và dòng thải, vì vậy áp dụng các phương pháp truyền thống thường cho kết quả dự báo định lượng và có độ tin cậy cao. Trong khi đó, do tính chất của các quy hoạch, chiến lược, chương trình, kế hoạch ở tầm vĩ mô, các số liệu đưa ra không đủ cụ thể và chi tiết, việc áp dụng các phương pháp truyền thống thường chỉ cho kết quả định tính. Để đánh giá được cả những tác động gián tiếp, tác động tích luỹ và tác động tương hỗ (còn gọi là tác động khu vực) cần phải áp dụng các phương pháp đánh giá đặc thù áp dụng đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch (còn gọi là phương pháp đánh giá chiến lược).

- Phương pháp liệt kê:các bảng liệt kê được sử dụng dựa trên việc xác định các hoạt động và nguồn nhạy cảm môi trường để xác định các tác động trực tiếp, và một số tác động gián tiếp và tác động tích lũy. Phương pháp này giúp bao quát được hết các tác động có thể xảy ra, nhưng không đủ dữ liệu để so sánh tầm quan trọng của từng tác động;

- Phương pháp ma trận: tương tự như các bảng liệt kê, ma trận được sử dụng để ước tính ở mức độ nào đó các tác động từ các hoạt động của một dự án lên một nguồn, tuy nhiên cũng chỉ mang tính ước tính chủ quan và định tính;

- Phương pháp phân tích mạng lưới: dựa vào khái niệm về các tác động có tính liên kết và tác động tương hỗ với các yếu tố môi trường riêng biệt. Phương pháp này có thể áp dụng tốt để xem xét các tác động gián tiếp và tác động tương hỗ, tuy nhiên chỉ mang tính định tính, không xác định được quy mô tác động hay mối tương quan của chúng.

- Phân tích xu hướng và ngoại suy: xác định nguyên nhân và các hậu quả trong quá khứ để dự báo các tác động từ các hoạt động trong tương lai. Phương pháp này còn được gọi là “hồi cứu quá khứ - dự báo tương lai”, có nghĩa là hồi cứu các số liệu về trạng thái và xu thế diễn biến môi trường quá khứ trên cơ sở dữ liệu của hệ thống quan trắc môi trường để dự báo trạng thái môi trường trong tương lai.. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải có dữ liệu quá khứ với thời gian đủ dài. Ở nước ta cơ sở dữ liệu của hệ thống monitoring mới được tích luỹ trong những năm gần đây và chủ yếu là dữ liệu về trạng thái môi trường đô thị và khu công nghiệp. Vì vậy, khi áp dụng đối với dự án quy hoạch sử dụng đất VKTTĐ Bắc Bộ các dự báo đưa ra chỉ có tính định tính.vì số liệu và thông tin trong quá khưa không đầy đủ và không phù hợp với mục tiêu đánh giá tác động của việc sử dụng đất;

- Phương pháp “so sánh tương tự”: dự báo trạng thái môi trường bằng cách so sánh tương tự là phương pháp đơn giản nhất và vì vậy kết quả dự báo theo phương pháp này được cho là có độ tin cậy thấp. Phương pháp này dựa trên các kết quả ĐMC các quy hoạch sử dụng đất ở nước ngoài để so sánh và áp dụng dự báo đối với quy hoạch sử dụng đất VKTTĐ Bắc bộ. Trong hoàn cảnh ĐMC mới bắt đầu được áp dụng ở nước ta và chưa có một ĐMC nào được thực hiện đối với quy hoạch sử dụng đất, phương pháp đóng vai trò quan trọng khi kết hợp với các phương pháp đánh giá chính sách và quy hoạch khác;

- Phân tích đa tiêu chí: đánh giá các phương án thay thế dựa trên một số tiêu chí và kết hợp các đánh giá riêng rẽ vào trong một đánh giá tổng thể, được sử dụng để nhận dạng, lựa chọn một phương án tối ưu nhất trong các phương án đề xuất. Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là việc cho điểm số đánh giá còn mang tính chủ quan (ảnh hưởng bởi nhận thức của người thực hiện phương pháp), vì thế có thể không chính xác;

- Đánh giá của tập thể chuyên gia: trong điều kiện ở nước ta hiện nay, phương pháp kết hợp kiến thức chuyên gi có kinh nghiệm thực tế từ các lĩnh vực khác nhau (chính sách, xã hội, kinh tế, môi trường…) được sử dụng chủ yếu trong việc xây dựng quy hoạch, chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phát triển ngành. Vì vậy, đây cũng là phương pháp chủ yếu được áp dụng trong quá trình ĐMC quy hoạch sử đất VKTTĐ Bắc Bộ.

Đặc điểm của dự án có liên quan đến môi trường:

Khi triển khai Quy hoạch sử dụng đất VKTTĐ Bắc Bộ, các yếu tố môi trường sau đây sẽ bị ảnh hưởng:

- Chế độ thủy văn: việc thay đổi phương thức sử dụng đất thường kéo theo thay đổi chế độ thuỷ văn, bao gồm chế độ dòng chảy và xâm nhập mặn.

- Tính chất bức xạ và nhiệt: thay đổi bề mặt quả đất có thể kéo theo thay đổi chế độ hấp thụ và bức xạ năng lượng mặt trời, dẫn tới thay đổi chế độ nhiệt toàn vùng.

- Vòng tuần hoàn sinh-địa-hoá: thay đổi tính chất hấp thụ và thải các bon từ thảm thực vật và đất sẽ kéo theo thay đổi vòng tuần hoàn N và P.

- Chất lượng không khí: Quy hoạch sử dụng đất có ảnh hưởng đến chất lượng không khí. Ô nhiễm không khí xảy ra từ tác động của các dự án như xây dựng dự án mới có thải chất ô nhiễm không khí hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông.

- Chất lượng nước: sử dụng đất và tài nguyên nước có mối quan hệ mật thiết. Dù cho nguồn tác động là từ tự nhiên hay là từ các hoạt động của con người thì ảnh hưởng của việc sử dụng đất đến chất lượng và lưu lượng tài nguyên nước đều rất lớn. Cần lưu ý rằng đây là ảnh hưởng 2 chiều: hoạt động sử dụng đất có tác dụng trực tiếp đến tài nguyên nước, đồng thời chất lượng và lưu lượng nước lại ảnh hưởng lớn đến quy hoạch sử dụng đất. Đặc biệt, quy hoạch sử dụng đất cho hoạt động công nghiệp và nông nghiệp có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước. Đất nông nghiệp thường được sử dụng một lượng lớn phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, cũng như trên đất công nghiệp thường sử dụng và thải bỏ một các hoá chất độc hại, đều làm tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm.Trong khi đó, các hoạt động sử dụng đất luôn gắn liền với nhu cầu sử dụng nước.

- Chất lượng đất: thực trạng quản lý đất, lịch sử sử dụng đất và điều kiện địa lý-địa chất ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa sử dụng đất và tính chất đất, đồng thời các hoạt động sử dụng đất cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến tính chất của đất. Hậu quả của việc tác động tự nhiên và hoạt động của con người đến chất lượng đất là làm cho đất bị xói mòn, đất bị thoái hoá và đất bị hoang hoá.

- Đa dạng sinh học: các hoạt động sử dụng đất và các thay đổi xảy ra do khai thác đất quá mức đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái, đặc biệt là mất nơi cư trú và thay đổi cân bằng sinh thái (kể cả thay đổi cân bằng giữ các loài tự nhiên và ngoại lai).

- Cảnh quan: hoạt động sử dụng đất luôn kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ cảnh quan.

- Các yếu tố kinh tế-xã hội khác: thay đổi phương thức sử dụng đất thường đi kèm với thay đổi về mật độ dân số và thay đổi cấu trúc nền kinh tế. Điều đó tất yếu sẽ làm thay đổi mạnh mẽ đến trình độ văn hoá, giáo dục, việc làm và các vấn đề liên quan (tệ nạn xã hội, bệnh tật…)

Điểm mạnh:

- Báo cáo đã sử dụng được kết hợp khá nhiều các phương pháp nghiên cứu để tăng độ tin cậy. Các phương pháp này đều được mô tả chi tiết và đánh giá về độ tin cậy trong báo cáo;

- Báo cáo đã xây dựng được một hiện trạng về môi trường liên quan đến quy hoạch sử dụng đất trong khu vực nghiên cứu có giá trị cho các cân nhắc lựa chọn phương án sau này;

- Báo cáo cũng đã xây dựng được một bức tranh dự báo về các tác động xấu có thể xảy ra đối với môi trường khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Dự báo này được thực hiện khá khoa học trên cơ sở xác định được các nguồn có khả năng gây tác động đối với môi trường (ví dụ, phát triển khu công nghiệp, làng nghề hay chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác tài nguyên và kể cả các tác động tích luỹ...); đồng thời, dự báo cũng mô tả được các đối tượng và quy mô chịu tác động môi trường (tích cực và tiêu cực) từ quy hoạch sử dụng đất vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ bao gồm cả các yếu tố về môi trường, kinh tế và xã hội.

- Báo cáo đã xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá môi trường có một ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong ĐMC, khi dự án là một chương trình/kế hoạch/quy hoạch bao gồm nhiều hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau, xảy ra trong một không gian rộng lớn và trong một thời gian dài. Đây là một trong những điểm mạnh của báo cáo ĐMC này khi xây dựng được bộ tiêu chí tương đối chi tiết và gắn với quy hoạch đang được xây dựng. Các tiêu chí đánh giá tác động môi trường sẽ giúp cung cấp các câu trả lời cho câu hỏi về những thay đổi môi trường sẽ xảy ra và tính bền vững của dự án; đồng thời sẽ giúp giải thích về những quyết định nào và hậu quả của các quyết định này. Việc xác định đúng các tiêu chí đánh giá tác động môi trường sẽ giúp thực hiện thành công ĐMC và giúp đề xuất được những khuyến nghị có ích cho việc ra quyết định. Đồng thời những tiêu chí này cũng sẽ được sử dụng trong chương trình quan trắc và giám sát môi trường khi thực hiện quy hoạch. Bộ tiêu chí được trình bày như sau:

- Việc phân tích tác động môi trường của các phương án lựa chọn của báo cáo này cũng được thực hiện khá bài bản với các phân tích đánh giá với 03 phương án đề xuất bao gồm cả phương án "không" bằng cách cho điểm theo các tiêu chí đã xác định ở trên.

- Báo cáo cũng đã tích hợp được xu thế biến đổi chung của các điều kiện tự nhiên, môi trường và kinh tế-xã hội VKTTĐ Bắc bộ khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

- Phần kiến nghị và giải pháp của báo cáo đã được xây dựng tương đối chi tiết với các giải pháp ở cấp vĩ mô cũng như vi mô khá hoàn chỉnh.

Điểm yếu:

- Như trên đã nói, do tính chất vĩ mô của quy hoạch và do hiện tại nước ta còn thiếu các dữ liệu cơ sở, các kết quả đánh giá tác động môi trường đối với quy hoạch sử dụng đất VKTTĐ Bắc bộ chủ yếu là định tính.

- Chính vì lí do này mà việc phân tích và đánh giá còn phải dựa phần lớn vào năng lực chuyên gia có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu và quản lý trong lĩnh vực môi trường và sử dụng đất để đảm bảo độ tin cậy. Mặc dù đây không phải là sai lầm tuy nhiên nếu hoàn toàn dựa vào năng lực chuyên gia trong nghiên cứu, phân tích và đánh giá hiện trạng sẽ khó tránh khỏi các trường hợp thiên lệch hoặc định kiến.

- Cũng với nguyên nhân này, việc huy động các bên liên quan trong quá trình xây dựng báo cáo ĐMC chưa thực sự được coi trọng và đây cũng là điểm góp phầm làm cho báo cáo thiếu các cơ sở dữ liệu ở cấp địa phương phục vụ cho quá trình xây dựng báo cáo.

- Các yếu tố khác ngoài môi trường (kinh tế, xã hội) cũng chưa được thực sự chú trọng như đối với vấn đề môi trường đã làm cho báo cáo trở nên chưa toàn diện, đồng thời giảm bớt tính thuyết phục khi mục tiêu chung được đặt ra là nhằm xây dựng và áp dụng quy hoạch sử dụng đất mang tính bền vững.

Phùng Giang Hai

Trở về
In bài này
Các tin khác:
 Thách thức môi trường trong phát triển nông nghiệp nông thôn (15/11/2009)
 Hướng tới phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam (05/10/2009)
 Đánh giá Môi trường Chiến lược ở một số nước trên thế giới (28/09/2009)
 Định giá tài nguyên môi trường “Bền vững hơn trong các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội” (12/08/2009)
 Hội thảo về "Đánh giá môi trường chiến lược trong phát triển nông nghiệp và nông thôn: Kinh nghiệm trên thế giới và áp dụng tại Việt Nam" (19/02/2009)
 Đức giúp Việt Nam bảo vệ rừng Tam Đảo. (12/12/2008)
website được thiết kế và quản lý bởi Trung tâm Thông tin Bộ môn Chiến lược và Chính sách (DSPR)
Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn - IPSARD

Số 16 Thụy khuê- Tây hồ - Hà nội - Điện thoại: 84-4-9714350, Fax: 84-4-9711062.
Email:dspr@ipsard.gov.vn,